Banner chinh 03 Banner chinh 04 Banner chinh 05 Banner chinh 06 Banner chinh 08

Phổi tắc nghẽn mãn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính - "Sát Thủ" thầm lặng


Phổi tắc nghẽn mãn tính có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm nhưng lại diễn biết âm thầm nên được gọi là "sát thủ thầm lặng".

 

QUAN NIỆM TÂY Y

 

1. Khái niệm

 

Theo chiến lược toàn cầu về điều trị và dự phòng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là tình trạng bệnh lý được đặc trưng bởi sự hạn chế lưu lượng khí thở ra thường tiến triển và liên quan với đáp ứng viêm bất thường của phổi và các hạt khí và khí độc hại.

Hội lồng ngực Mỹ (ATS 1995) định nghĩa COPD bằng tập hợp các bệnh: Viêm phế quản mạn, khí phế thũng, hen phế quản có tình trạng tắc nghẽn đường thở không hồi phục. Tuy nhiên hiện nay COPD chỉ được coi bao gồm: Viêm phế quản mạn và khí phế thũng. COPD là bệnh mạn tính, chưa chữa khỏi hoàn toàn, có nhiều biến chứng nguy hiểm nhưng lại diễn biết âm thầm nên được gọi là "sát thủ thầm lặng".

 

2. Các yếu tố nguy cơ

- Yếu tố cơ địa: những người có các yếu tố cơ địa sau dễ mắc COPD

+ Yếu tố di truyền: những người có kiều hình đồng hợp tử allel Z trên gen anpha1- antitrysin sẻ có nồng độ anpha1- antitrysin trong máu giảm nhiều và dẫn đến nguy cơ phát triển bệnh COPD  cao hơn người bình thường.

+ Người mắc hen phế quản và tăng đáp ứng đường thở: Người mắc hen phế quản có nguy cơ mắc COPD gấp 12 lần so với người không mắc hen phế quản. Khoảng 15% người có tăng đáp ứng đường thở phát triển thành COPD.

+ Trẻ em thiếu cân và nhiễm trùng hô hấp tái diễn cũng có thể phát triển COPD khi trưởng thành. Người mắc lao phổi cũng là yếu tố nguy cơ dẫn tới COPD.

- Yếu tố môi trường: Là yếu tố quan trọng nhất gây COPD, bao gồm:

+ Khói thuốc lá là yếu tố nguy cơ chính gây COPD. Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy người hút thuốc lá tăng nguy cơ mắc COPD gấp 2,6 - 2,8 lần và tăng nguy cơ tử vong gấp hơn 25 lần so với người không hút thuốc. Hút thuốc điếu gây nguy cơ mắc COPD cao hơn hút tẩu. Phụ nữ hút thuốc có nguy cơ mắc cao hơn nam giới và hút trong thời kỳ mang thai sẻ ảnh hưởng đến chức năng phổi của thai nhi. Những người không hút thuốc nhưng chịu ảnh hưởng bởi người hút thuốc (hút thuốc thụ động) cũng có nguy cơ mắc COPD.

+ Khói bụi và hóa chất nơi làm việc (các hạt than, khói hàn, các bụi khoáng) có nguy cơ mắc COPD và tăng nguy cơ ở những người đồng thời hút thuốc.

+ Bụi ô nhiễm không khí trong và ngoài nhà ở do dùng bếp than, bếp ga, đun củi (khói từ các chất đốt), nhất là nhà ở kém thông khí cũng là yếu tố nguy cơ phát triển COPD. Theo tổ chức Y tế Thế giới, ở các nước thu nhập thấp và trung bình 30% bệnh nhân COPD là do thường xuyên hít phải khói từ các chất đốt. Phụ nữ và trẻ em chịu ảnh hưởng ô nhiễm trong nhà nhiều hơn nam giới.

+ Những ngươi có chế độ ăn thiếu vi chất như vitamin C và E, A, Magie có thể mắc COPD.

những người sống trong điều kiện nhà ở chật chội, dinh dưỡng kém, lao động nặng nhọc cũng có nguy cơ phát triển COPD.

 

3. Triệu chứng

 

Bệnh khởi phát thường ở tuổi 50 - 60, ở những người nghiện hút thuốc lá, thuốc lào hoặc tiếp xúc thường xuyên với khói bụi độc hại. Các triệu chứng nổi bật là ho, khạc đờm và khó thở.

Ho và khạc đờm thường xuất hiện sau 10 năm kể từ khi bắt đầu hút thuốc. Lúc đầu thường khạc đờm ít, xuất hiện và sáng sớm, đờm nhầy, khi đợt cấp có thể khạc đờm mủ. Ở giai đoạn bệnh nặng, ho khạc đờm sẻ diễn ra thường xuyên. Khó thở biểu hiện muộn hơn (thường sau 20 - 30 năm hút thuốc) mới đầu khó thở khi gắng sức, về sau khó thở cả khi nghỉ. Khi thay đổi thời tiết hoặc mùa lạnh các triệu chứng của bệnh sẽ nặng lên.

Đợt cấp của COPD là hiện tượng xảy ra cấp tính, biểu hiện bằng triệu chứng hô hấp xấu đi so với tình trạng thường ngày. Đặc trưng của COPD là tiến triển nặng dần với những đợt cấp. Các đợt cấp là nguyên nhân chính làm bệnh nhân phải nhập viện, làm bệnh tiến triển nặng hơn, nhanh hơn với các biến chứng nguy hiểm (suy tim phải, tràn khí màng phổi, suy hô hấp...) và cũng là nguyên nhân tăng chi phí điều trị, gây tử vong cho người bệnh. Do vậy dự phòng, điều trị đợt cấp một cách tích cực và đúng sẻ làm giảm đáng kể sự tiến triển của bệnh, ngăn ngừa các biến chứng, giảm số lần nhập viện cũng như chi phí điều trị và tỉ lệ tử vong ở bênh nhân COPD.

Trung bình, mỗi năm, bệnh nhân COPD có từ 1 - 3 đợt cấp. Các yếu tố nguy cơ xuất hiện đợt cấp của bệnh gồm: Tuổi cao, thời gian mắc bệnh lâu năm, thường xuyên ho và khạc đờm,  nhiều lần nhập viện năm trước, điều trị nhiều kháng sinh, theophylin. Trong đợt cấp bệnh nhân thường có biểu hiện ho khạc đờm tăng, số lượng đờm nhiều, đờm đục, khó thở tăng và có thể có biểu hiện của nhiễm trùng (sốt, mệt mỏi...). Bệnh nhân có thể có biểu hiện suy tim, suy hô hấp nặng lên hoặc xuất hiện tràn khí màng phổi trong đợt cấp.

Nguyên nhân của đợt cấp tính gồm 2 nhóm:

+ Phổ biến nhất là do nhiễm trùng, trong đó do vi khuẩn gặp nhiều nhất (gặp từ 40 -50%), nhiễm virus gặp khoảng 30% và vi khuẩn không điển hình gặp từ 5 - 10%.

+ Nguyên nhân không nhiễm trùng có thể do suy tim nặng lên, loạn nhịp tim, tắc mạch phổi, tràn khí màng phổi; Điều trị oxy, dùng thuốc ngủ, an thần, lợi tiểu không đúng hoặc có các bệnh chuyển hóa phối hợp (đái tháo đường, gout mạn tính...), dinh dưỡng kém...

COPD có thể gây ra nhiều biến chứng như suy tim, suy hô hấp, nhiễm trùng hô hấp tái diễn,  tràn khí màng phổi, suy mòn, suy kiệt, ảnh hưởng hệ thống (loãng xương, yếu cơ, rồi loạn chuyễn hóa, trầm cảm...). Tùy theo theo giai đoạn bệnh mà các biến chứng có thể xuất hiện sớm  hay muộn và mức độ nặng nhẹ khác nhau.

COPD là một trong những bệnh có ảnh hưởng lớn tới sức khỏe, đời sống và kinh tế của bệnh nhân và gia đình. Với đặc điểm là bệnh mạn tính, tiến triển thường xuyên, nặng dần với nhiều biến chứng nặng sẽ làm cho người bệnh suy giảm chức năng phổi, hạn chế hoạt động thể lực, suy giảm chất lượng cuộc sống, tàn phế và có thể tử vong. Người bệnh thường xuyên phải điều trị tại bệnh viện cũng như tại nhà, do vậy, sẽ ảnh hưởng đến kinh tế gia đình bởi chi phí điều trị tại bệnh viện cũng như giảm thu nhập do nghỉ việc. Mặt khác, người bệnh cũng như người trong gia đình luôn ở trạng thái lo lắng về bệnh tật và có thể mắc các bệnh như suy nhược thần kinh, trầm cảm...

 

QUAN NIỆM ĐÔNG Y

 

Đông y coi viêm phế quản mãn tính, viêm phế quản thể hen, viêm phế quản co thắt, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đều thuộc bệnh “háo suyễn”. Và cách điều trị đều chung một nguyên tắc.

 

Đông y cho rằng chứng háo suyễn phát sinh do 3 nguyên nhân:

- Ngoại cảm lục dâm.

- Nội thương ẩm thực.

- Tỳ, phế, thận hư nhược.

 

Bệnh nhân bị bệnh là do Tỳ, phế, thận hư nhược (hay suy giảm chức năng) nên sức đề kháng của cơ thể giảm xuống, khi đó gặp tác dụng bất lợi của môi trường, chẳng hạn trời lạnh xuống, khí đạo sẽ bị viêm, đờm sẽ sinh ra gây nên hen suyễn, viêm phế quản.

 

Để điều trị chứng háo suyễn, Đông y cho rằng phải phục hồi chức năng nội tạng mà chủ yếu là Tỳ, Phế, Thận nhờ đó sức đề kháng của cơ thể tăng lên, các kháng thể tự sinh ra, ức chế các virus, tiêu viêm, khí quản và phế quản trở lại bình thường, đờm được tiêu trừ, hen, viêm phế quản, tình trạng tắc nghẽn mãn tính không còn nữa.

 

Như vậy nguyên tắc chung điều trị viêm phế quản, hen phế quản, phổi tắc nghẽn ở đây là phò chính, khu tà. Sách Nội Kinh đã chỉ rõ: “tà chi sở tấu, chính khí bất an”. Với bệnh nhân hen phế quản, phổi tắc nghẽn, sau khi cắt cơn khó thở, làm hết các triệu chứng ho, khò khè, tiếp tục điều trị “phò chính", làm cho cơ thể càng khỏe lên, sức đề kháng tăng cao, sau đó dù cho môi trường bất lợi thì cơn khó thở cũng không thể tái phát được.

 

MỤC TIÊU & PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ COPD HIỆU QUẢ

 

1. Mục tiêu điều trị

 

- Giảm các triệu chứng (giảm đờm, giảm ho, giảm khó thở), cải thiện khả năng vận động và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

- Ngăn bệnh tiến triển, phòng và điều trị các đợt cấp, giảm tỉ lệ tử vong (giảm các yếu tố nguy cơ).

 

2. Phác đồ điều trị

 

Tây y có hai thế mạnh là cận lâm sàng và ngoại khoa nhưng lại không phục hồi được chức năng nội tạng và kém trong chẩn đoán sớm, còn Đông y có 2 thế mạnh là phục hồi được chức năng nội tạng và chẩn đoán sớm nhưng lại không mạnh trong cấp cứu.

 

Về hen phế quản, viêm phế quản, phổi tắc nghẽn mãn tính, không chỉ là vấn đề ở đường hô hấp, nó là bệnh của toàn thân mà những biểu hiện tập trung ở đường hô hấp, đặc trưng bởi sự co thắt phế quản và sự tăng tiết chất nhầy.

 

Mục đích của điều trị Đông y là điều trị toàn diện, đem lại sự cân bằng cho toàn thân, tăng sức đề kháng của cơ thể, đồng thời quan tâm đến bài trừ nguyên nhân bệnh, vì thế bệnh mới khỏi dứt điểm được. Còn nếu điều trị theo Tây y, dùng thuốc giãn phế quản và các steroid thì có tác dụng làm giảm nhẹ nhanh các triệu chứng nhưng không loại bỏ được căn nguyên bệnh, vì thế mà bệnh cứ tái đi tái lại làm cho các bệnh nhân hen suyễn, viêm phế quản mãn tính phải chung sống suốt đời với bệnh.

 

Nhiều người bị hen, viêm phế quản mãn tính chữa nhiều nơi không khỏi, sau thời gian điều trị bằng thuốc hen P/H  bệnh đã khỏi, chục năm nay chưa thấy bệnh quay lại. Đó là lý do tại sao thuốc hen P/H – thuốc thảo dược  có thể phòng và điều trị hiệu quả hen phế quản, viêm phế quản, thể tắc nghẽn.

 

Để đạt hiệu quả cao nhất trong điều trị, cần kết hợp điều trị dự phòng bằng thuốc hen P/H (tuân thủ theo đợt điều trị) kết hợp dùng thuốc cắt cơn Tây y.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Tin tức liên quan